Những ký ức của Mẹ và ẩm thực Việt

Tôi khuyến khích bà. Tôi đưa bà thêm bánh tráng. Và chúng tôi cùng cuộn chả giò với nhau. Chúng tôi làm nhiều chả giò hơn dự định và chắc chắn sẽ không thể ăn hết. Nhưng điều đó không quan trọng. Chúng tôi quay trở ngược thời gian. Chúng tôi nói về ẩm thực, về công thức nấu ăn.

Dù ngày thứ sáu rất bận rộn và giữa những cuộc họp ngổn ngang, tôi không dừng được ý nghĩ phải lược thuật bài viết của Andrew ra tiếng Việt. Với cái cách đánh máy bỏ dấu tiếng Việt như gà mổ của tôi, cộng với những sự ngắt quãng giữa chừng của những cuộc họp và hơn 2 lần quên save bài lược dịch, tôi mất cả hơn 5 tiếng đồng hồ mới xong bản dịch tiếng Việt. Mất hơn 3 lần phải tra cứu thêm từ tiếng Việt mà tôi không chắc lắm trong lúc dịch ra từ tiếng Anh cộng với nhiều lần cân nhắc câu cú và thay đổi từ ngữ để thích hợp nhưng vẫn lột tả được hết ý của tác giả. Nhưng trên hết, tôi cám ơn người bạn luôn truyền cho tôi cảm hứng dịch thuật và luôn làm tôi xúc động với những bài viết ngắn, đơn giản nhưng đong đầy hương vị, màu sắc, và hình ảnh của quê hương xa lắc. Cảm giác như chạm được vào quá khứ tuổi thơ!

“Tại sao con không gọi cho mẹ?” bà hỏi qua điện thoại, giọng nói của bà có một chút hờn giận và chỉ ở trên mức thì thầm. “Không ai nhớ tôi, không ai quan tâm nếu tôi chết.”

“Mẹ ơi, con gọi mẹ cách đây 3 ngày mà!”

“Nói dối ! Con đâu có gọi mẹ. Làm gì có!”

Thật ra, tôi có gọi nhưng bà không thể nhớ điều đó.

Mẹ tôi năm nay 81 tuổi. Năm năm trước, bà được chẩn đoán mắc bệnh mất trí nhớ và Alzheimer, bà không nhớ những gì xảy ra mới đây hoặc trong hiện tại. Trừ khi điều đó để lại những ấn tượng mạnh như những việc liên quan đến ma chay, cưới hỏi hay ly hôn của những người rất thân với bà. Còn lại thì bà chỉ nhớ đến những việc trong quá khứ mà thôi. Bà đã bắt đầu trở nên hoang tưởng và biến mình từ một vị phu nhân đài các, hoạt bát trở thành một người đàn bà yếu đuối và luôn chán nản. Mặc dù hai anh chị của tôi và tôi đến thăm cha mẹ ở thành phố Fremont mỗi tuần nhưng mẹ tôi vẫn cảm thấy bị cô lập và không nhận biết sự thăm viếng thường xuyên của chúng tôi do chứng mất trí ngày càng tăng của bà.

Nhưng đặc biệt khi nói đến quá khứ xa xôi, và khi nó liên quan đến chủ đề nấu ăn, thì bà hoạt bát hẳn lên. “Mẹ,” tôi nói với bà trên điện thoại, “Làm thế nào để con có thể chuẩn bị được món bánh tôm Cổ Ngư?” Đó là một loại bánh tôm chiên Việt Nam với khoai lang, một món ăn thuần túy của người miền Bắc. “Ừ”, bà trả lời không chút do dự,” con cần mua cả hai loại bột gạo và tinh bột. Con phải chắc chắn pha chế nó bằng 2 phần bằng nhau và tôm thì con phải giữ lại đầu, đó là phần quan trọng nhất của món ăn này. Con cần phải có loại dầu thực vật.” Bà thoát ra khỏi cái vỏ ốc hàng ngày và trở nên tự tin hơn. “Hãy cẩn thận đó, nếu con sử dụng quá nhiều tinh bột, bánh sẽ không được giòn”.

Tôi thừa biết làm món bánh tôm Cổ Ngư. Thật ra, tôi đã học được hàng chục công thức món ăn từ mẹ của mình bằng cách đơn giản là ngồi xem bà nấu và những lần vào bếp giúp bà. Tôi hỏi chỉ vì đơn giản là tôi muốn khơi lại sự tự tin vốn đã có sẵn trong bà. Tôi muốn nghe trong giọng nói của bà không còn sự tự thương hại mình với tuổi già hay những câu than vãn về một người mẹ bị bỏ rơi.

Tôi muốn mẹ tôi sống với những việc mà bà đã và đang làm tốt nhất: nấu ăn cho gia đình.

Thật vậy, hồi tôi còn bé, cứ cách mỗi tuần nhà tôi luôn có tiệc tùng. Trong suốt thời kỳ chiến tranh ở Việt Nam, cha tôi, một sĩ quan quân đội cao cấp trong Quân đội Việt Nam Cộng Hòa, luôn luôn tiếp khách quan trọng tại nhà. Kể từ khi tôi được bốn tuổi, tôi nhớ các bộ trưởng Việt Nam, tướng, các vị quan chức, và thậm chí cả sao Mỹ – Robert Mitchum và John Wayne và Jennifer Jones – đã ngồi ở bàn ăn trong suốt thời kỳ này. Và Mẹ – với sự giúp đỡ của các chị giúp việc – luôn luôn nấu ăn và tiếp đãi các khách quý của Cha. Chiến tranh vẫn đã là điều mọi người quan tâm lúc ấy nhưng không vì thế mà mọi người quên tụ tập bên nhà bếp và bàn ăn.

Hoặc vào những dịp khác, dù là ngày sinh nhật, giỗ chạp, Tết Nguyên đán hoặc đêm Giáng sinh, việc nấu ăn không mệt mỏi của mẹ làm cho cuộc sống của chúng tôi thêm phần hạnh phúc, sang trọng, và đầy đủ. Tôi nhớ mỗi sáng thường thức dậy với những âm thanh của nồi chảo lanh canh nghe rất vui tai vang lên từ nhà bếp, cũng như những tiếng dao chặt xuống thớt gỗ chuẩn bị cho nồi xương hầm. Vào cuối tuần, mùi hồi quế của nồi nước dùng phở hoặc mùi sả cay từ nồi bún bò Huế của mẹ lan tỏa khắp ngôi nhà.

Các công thức nấu ăn có thể là phức tạp. Tôi nhớ có những món ăn cầu kỳ mà bà phải làm như quết cá nhuyễn trộn chung với rau thì là, cần tây, dầu olive tự chế, và được ăn kèm với bánh phồng tôm hoặc bánh mì chiên. Đầu cá hấp và đuôi của nó được giữ lại, chỉ có mình cá được làm món cá quết nhuyễn mà thôi. Rồi mẹ tôi cũng làm món canh bầu nấu nấm rơm mà khi nấu xong thì trình bày món súp trong chính cái vỏ quả bầu ấy. Ngoài ra còn có món bánh cua nướng được đem ra bàn ăn trong chính vỏ của nó.

Mẹ đã không ngừng sáng tạo các món ăn cầu kỳ từ ẩm thực Việt, bà bắt đầu lấn sang món thịt & rau củ hầm của Ma-rốc, bò hầm rượu vang Pháp, cơm chiên Tây Ban Nha paella, và khi nào bà không thể tìm thấy những nguyên liệu cần thiết thì bà tìm tòi những gia vị khác để thay thế.

Tại ngôi biệt thự ở sườn đồi Đà Lạt ẩn mình dưới những khóm hoa và những ngôi biệt thự khác, nơi chúng tôi đã sống 5 năm, mẹ tôi mở một lớp dạy làm bánh ngọt miễn phí. Bà hướng dẫn các bà hàng xóm làm món bánh ngon nổi tiếng của Pháp như PateChaud, choux a la creme, eclaire,  bánh Buche de noel. Mẹ tôi chủ yếu là một đầu bếp tự học, mặc dù sau đó được khuyến khích và qua sự giới thiệu của nhiều người bạn nước ngoài của cha, bà tham dự lớp học nấu ăn với một số các đầu bếp giỏi nhất tại Sài Gòn thời ấy để mở rộng vốn kiến thức ẩm thực thế giới.

Do đó, tôi thấy buồn khi thấy bà ấy trở nên yếu đuối, hay quên, chán nản, và nhất là không còn khả năng nấu ăn. Bà bây giờ chỉ có thể nấu cơm và hâm soup trong lò vi sóng. “Mẹ không biết chuyện gì đã xảy ra,” bà nói một ngày khi tôi đến thăm và muốn nấu ăn cho bố mẹ tôi. “Có người nào đó đã ăn cắp tất cả dao của mẹ trong nhà bếp.”

Tôi giúp bà tìm kiếm và cuối cùng tìm thấy bà giấu những 3 con dao dưới đệm của ghế sofa. Thật là buồn và mệt mỏi khi thấy mẹ tôi để nỗi ám ảnh và sự hoang tưởng về việc sợ bị cướp và kẻ trộm đến nỗi phải tự bảo vệ mình với những con dao nấu ăn mà bà từng sử dụng để tạo ra những bữa ăn thịnh soạn cho gia đình.

Đối với món khai vị, tôi hay làm những món ăn phổ biến và cổ điển như món chả giò hay gỏi cuốn. Tôi trộn thịt heo với nước mắm, hạt tiêu đen, mộc nhĩ nấm, thịt cua, hành lá, miến. Tôi đưa bà bánh tráng và nước ấm. “Hãy để mẹ giúp cho!” bà nói. Bà đứng dậy từ ghế sofa nơi bà thường nằm mệt mỏi để xem những phim Hàn Quốc ủy mị và lê thê.

Mặc dù bà không bao giờ có thể nấu một bữa ăn hòan hảo một lần nữa, nhưng bà ấy được là chính mình khi nấu ăn. Các ngón tay xương xẩu được hướng dẫn bởi những cơ bắp của ký ức. Và khi bà bắt đầu cuộn chả giò – một muỗng hỗn hợp thịt heo xay với thịt cua, một bánh tráng thấm nước – bà bắt đầu nhớ lại. “Hồi mình còn ở Huế, mẹ nhớ có lần chuẩn bị bữa ăn tối cho 25 thực khách”, bà nói. “Bà Ngọc, bà ấy gửi các cô con gái đến giúp. Chúa ạ! Bà đó có tới sáu cô con gái. Và tất cả họ đều làm việc rất chăm chỉ.” Mẹ bắt đầu cười.

Bà nhớ lại rất đông phụ nữ có mặt trong nhà bếp hôm đó. Bà nhớ lại âm thanh của chậu nhôm va chạm vào các loại chảo và nồi, tiếng chặt thịt trên các thớt gỗ. Họ vừa làm việc vừa tán gẫu chuyện ngồi lê đôi mách. Trong nhóm phụ nữ đó, có một cô hát rất hay và cô ấy thường hát trong lúc làm việc. Họ cùng chia sẻ công thức nấu ăn. Bà nhớ lại một thế giới nhẹ nhàng vốn đã trôi qua rất lâu.

Tôi khuyến khích bà. Tôi đưa bà thêm bánh tráng. Và chúng tôi cùng cuộn chả giò với nhau. Chúng tôi làm nhiều chả giò hơn dự định và chắc chắn sẽ không thể ăn hết. Nhưng điều đó không quan trọng. Chúng tôi quay trở ngược thời gian. Chúng tôi nói về ẩm thực, về công thức nấu ăn.

Chúng tôi nói về quá khứ!

Andrew Lâm là một biên tập viên với New America Media và tác giả của”Perfume Dreams: Những phản ánh về cộng đồng người Việt Nam, và “East Eats West: Writing in Two Hemispheres.” Sách mới nhất của anh ấy tên “Birds of Paradise Lost,” một bộ sưu tập truyện ngắn, được xuất bản vào năm 2013 và giành được một giải thưởng văn học Miles Pen / Josephine vào năm 2014 và vào chung kết giải thưởng sách California và lọt vào danh sách cho giải thưởng quốc tế William Saroyan dành cho văn chương.

Câu chuyện trên đây là một phần của Off The Menu: một phần của dự án truyền thông giữa các Trung tâm Truyền thông Châu Á Thái Bình Dương và của đài truyền hình Mỹ KQED, được đăng tải trên tờ Huffington Post vào dịp lễ Mother’s Day năm nay.

3 thoughts on “Những ký ức của Mẹ và ẩm thực Việt

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *